Công nghệ sinh sản trong tương lai - Phần 1

Sự phát triển của công nghệ sẽ cho phép sử dụng trứng noãn chưa chín, giúp phụ nữ tránh được liệu pháp bổ sung ( để kích hoạt trứng chín) như hiện nay vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ
Công nghệ y sinh tương lai sẽ không chỉ cho phép các cặp vợ chồng quyền chọn lựa giới tính thai nhi mà còn cả quyền quyết định về sức khỏe, sắc đẹp và trí lực của đứa con. Ngoài ra cả cách thức họ thụ thai, sinh sản cũng sẽ có nhiều thay đổi …
Vấn đề sinh con theo ý muốn trong tương lai sẽ không chỉ có việc lựa chọn giới tính tính thai nhi mà còn có cả quyết định các tố chất của đứa con - từ sức khỏe, trí lực cho đến sắc đẹp và di truyền … đặc biệt là sẽ có những thay đổi cơ bản về cách thức con người thụ thai và sinh sản … Việc chẩn đoán sớm các việc di truyền cho thai nhi sẽ trở nên hết sức bình thường bên cạnh những khả năng chọn lựa cấu trúc gen phôi thai để tìm kiếm những ưu điểm – chứ không chỉ có giới tính – của đứa bé trong tương lai. Theo các nhà khoa học, khả năng tiềm kiếm các tiêu chuẩn đặc trưng về di truyền có thể sẽ rất phổ biến khi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) sẽ là cách sinh sản quen thuộc, chứ không phải chỉ dành cho những người vô sinh hay có các vấn đề liên quan đến sinh sản, đặc biệt là khả năng can thiệp trực tiếp vào bộ gen phôi thai nhằm tìm kiếm các ưu điểm cho đứa bé tương lai có thể cũng sẽ bắt đầu để mở đường cho việc phát hiện sớm các bẩm chất di truyền của con người …
Như vậy, trong vòng vài ba thế hệ tới, sự thụ thai và vấn đề giới tính, chất lượng của thai nhi sẽ bị không bị phó mặc cho sự hú họa của tạo hóa mà phụ thuộc vào quyết định của cha mẹ, hay đúng hơn là vào sự định của cha mẹ, hay đúng hơn là vào sự tinh vi của công nghệ sinh sản trong tương lai…
Sinh sản vô tính
Mặc dù hiện tại kỹ thuật này được coi là nguy hiểm khi áp dụng trên người, nhưng trong thập kỷ tới có thể sẽ có những em bé ra đời gần như là sinh sản vô tính. Với kỹ thuật can thiệp và chọn lựa di truyền, khả năng song sinh giống nhau có thể sẽ trở nên xa lạ, và một số vấn đề sẽ nảy sinh khi các cặp vợ chồng đồng giới sinh con, đặc biệt là sẽ có những hậu quả không nhỏ đi kèm …
Có một nghịch lý là trong khi kỹ thuật sinh sản vô tínhđang phải đối mặt với các sự phản đối kịch liệt, đặc biệt là các kế hoạch áp dụng trên người, thì trên thực tế các thí nghiệm cơ bản lại đang diễn ra với tên gọi “kế hoạch hóa gia đình”. Thật ra kế hoạch thụ tinh trong ống nghiệm là sự ngoại hiện sinh sản (sinh sản ngoài cơ thể) của con người nhưng lại không gây nhiều bàn cãi, bất chấp những cải tiến trong hai thập kỷ qua, cái giá của IVF vẫn còn quá đắt và không dễ chịu chút nào đối với các cặp vợ chồng vô sinh. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ sớm thay đổi và có tính quyết định đối với sự sinh sản con người trong tương lai, vì IVF sẽ là nền tảng cho sự sẵn sàng về công nghệ để định hình cấu trúc di truyền của đứa bé. Điều này đang gợi lên hy vọng mới cho việc tìm kiếm những đứa con theo ý muốn, không chỉ về giới tính mà cả về thể chất, sắc đẹp và trí lực …
Chọn lựa ưu điểm di truyền
Trong tương lai, kỹ thuật IVF không chỉ là phương pháp chữa trị bệnh vô sinh mà còn có thể là cách thức sinh sản chủ yếu của con người. Sự phát triển của công nghệ sẽ cho phép sử dụng trứng noãn chưa chín, giúp phụ nữ tránh được liệu pháp bổ sung ( để kích hoạt trứng chín) như hiện nay vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Một vài thập niên tới, những phụ nữ trẻ có thể chỉ cần đến bác sĩ chhuyên khoa để lấy hàng ngàn noãn bào sinh qua việc sinh thiết buồng trứng hết sức đơn giản. Số trứng này sẽ được đông lạnh và cất giữ trong ngân hàng trứng, khi được rã đông và cho chín trong phòng thí nghiệm, việc thụ tinh sẽ diễn ra đơn giản khi có sự gặp gỡ với tinh trùng người chồng, sẽ được cấy trở lại vào tử cung cô ta và quá trình sinh sản sẽ tiến triển bình thường…
Triển vọng thực thi các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hiện nghe như chuyện khoa học viễn tưởng, nhưng hoàn toàn khả thi trong vòng vài thập kỷ tới và sẽ được áp dụng phổ biến cho việc sinh sản ở người. Nó không chỉ cho phép người phụ nữ chủ động kiểm soát thời giank mang thai và bảo tồn khả năng sinh sản của mình, mà còn giúp họ tránh được nguy cơ vô sinh khi lặp gia đình muộn sau tuổi 30 hay 40 và cũng sẽ cho phép các cặp vợ chồng dễ dàng biết được cấu trúc di truyền, để từ đó có thể chọn lựa những tố chất, thậm chí cả những năng lực xuất chúng của đứa con tương lai.
09/07/2016 , Nguyên Hùng – kiến thức ngày nay – năm 2006

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *